Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014



Về cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập”:
DANH KHÔNG CHÍNH, NÓI KHÔNG THUẬN, LÀM BẤT MINH
Như phân tích ở bài trước, “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” thực chất chỉ là một thứ “con hoang”, chẳng ra đời một cách đàng hoàng cũng chẳng được công khai đăng ký và được luật pháp công nhận. Những thành viên “đẻ” ra cái tổ chức kỳ quái này hẳn “tưởng bở” rằng với “đứa con hoang” mang những thứ tên “vang như chuông, rền như khánh” ấy sẽ nhanh chóng “nổi đình nổi đám” trong cũng như ngoài nước song sự thật còn ê chề hơn nhiều lần họ tưởng tượng…

Bài 2– NÓI CHẲNG THUẬN TAI
            Một điều khiến dư luận trong và ngoài nước rất nghi ngờ về động cơ chính đáng của cái gọi là “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” nằm ở ngay danh xưng “Hội Nhà báo”.
Ở Việt Nam, báo chí đã có tuổi đời và phát triển gần 90 năm, so với nhiều nước trên thế giới, như thế cũng đã thực sự có chỗ đứng vững chắc trong việc xây dựng một xã hội dân chủ mà ở đó, quyền tự do báo chí không chỉ được hiến định mà còn được thể hiện rõ trong thực tế. Hội Nhà báo Việt Nam – cho đến nay- vẫn là tổ chức lớn nhất tập hợp tuyệt đại đa số các nhà báo và những người làm báo, dùng ngòi bút, tài năng, trí tuệ và tấm lòng trong sáng của mình hết lòng đóng góp cho sự nghiệp đổi mới, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Với hơn 800 tờ báo thuộc đủ các loại hình báo in, báo nói, báo viết, báo điện tử, đội ngũ những người làm báo cách mạng Việt Nam tự hào với truyền thống của mình đồng thời tự tin sánh vai với các nền báo chí lớn trên thế giới như Mỹ, Nga, châu Âu v.v…Đã có một Hội Nhà báo Việt Nam, vậy thử hỏi, “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” là cái thứ gì? Nằm ở đâu trong xã hội? Hay là chỉ muốn lập lờ đánh lận con đen bằng chiêu trò “nhái” nhãn mác, thương hiệu như từng có với rất nhiều thứ hàng muốn “bán chạy” – dù chất lượng rất “trời ơi” – đã áp dụng?
Nếu như Hội Nhà báo Việt Nam đang tập hợp, dẫn dắt một đội ngũ hùng hậu với gần 20.000 hội viên là những người làm báo trung thực, chân chính, hết lòng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì trái lại, “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” chỉ là một vài thành viên như Phạm Chí Dũng, Anton Lê Ngọc Thanh, Nguyễn Tường Thụy, Bùi Minh Quốc, Ngô Nhật Đăng…là những kẻ luôn thể hiện sự bất đồng chính kiến với Đảng, Nhà nước và báo chí cách mạng Việt Nam. Họ tự xưng là “nhà báo”, vậy xin đặt câu hỏi, ai công nhận rằng những thành viên của “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” là “nhà báo” khi mà chính cái “Hội” này còn chưa chính danh, chưa được ai công nhận?
Họ tự xưng là “nhà báo”, nhưng cái danh “nhà báo” mà họ vơ vào là theo tiêu chí của quốc gia nào? Họ đã có bài viết đăng trên báo chí nước nào? Họ đã được quốc gia nào công nhận là “nhà báo”? Sự thực là, những người như Phạm Chí Dũng, Anton Lê Ngọc Thanh, Nguyễn Tường Thụy, Bùi Minh Quốc, Ngô Nhật Đăng…chả thuộc bất cứ tờ báo chính thống nào, chả thuộc về một cơ quan báo chí của bất kỳ quốc gia nào. Họ cũng chẳng có bài viết đàng hoàng, đĩnh đạc, tỏ bày quan điểm một cách công khai, rõ ràng, minh bạch, có tri thức về bất cứ vấn đề quốc kế dân sinh nào hết. Những “bài viết” của họ - nếu có- chỉ có thể thấy trên Internet – một thứ “chợ trời” thông tin, chưa biết thật – giả, đúng – sai thế nào. Mà nếu bất cứ ai từng có bài viết đăng trên mạng thông tin Internet đều có thể được gọi là “nhà báo” thì chả lẽ tất cả chúng ta, những người biết dùng smartphone, Ipad, laptop đều có thể tự nhận là “nhà báo” hết vì ai mà chẳng từng có những đoạn văn, những bài viết riêng; có người, thậm chí còn có cả trang điện tử riêng, tự mình vừa viết vừa biên tập vừa xuất bản…tất cả những gì họ nghĩ, họ thấy, họ muốn viết ra?
Cho ra đời cái “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, người ta ầm ĩ làm cái việc “tấn phong” cho nhau. Theo đó, Chủ tịch là Phạm Chí Dũng – người khá “nổi tiếng” với nhiều bài viết đả kích các chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam, được cho núp dưới cái mác tiến sĩ kinh tế; Phó Chủ tịch thường trực là đức cha Lê Ngọc Thanh – một linh mục thuộc Dòng Chúa cứu thế nhưng rất lười việc đạo mà chỉ chăm chống phá đất nước, rất quen dùng các chiêu trò kích động, xúi bẩy giáo dân gây rối trật tự hòng trục lợi; hai phó Chủ tịch nữa là “nhà báo” Nguyễn Tường Thụy – người có quan hệ khá chặt với giới “dân chủ giả hiệu” trong và ngoài nước hòng đầu cơ chính trị- và “nhà báo” Bùi Minh Quốc; Ủy viên là “nhà báo” Ngô Nhật Đăng. Chưa từng ai biết những nhân vật “chủ chốt” trên từng tu nghiệp báo chí ở đâu, làm báo bao nhiêu ngày và làm báo ở những tờ báo nào trong và ngoài nước! Thậm chí, một nhân vật trong số đó – “ủy viên” Ngô Nhật Đăng – còn công khai thú thật: “Chúng tôi chỉ là những “tay ngang” thậm chí còn chưa bao giờ có nổi một bài báo đúng nghĩa”.
Với một thành phần “cốt cán sáng lập” cực kỳ ô hợp, với danh xưng “nhà báo” tự nhận vơ dù kỹ năng viết báo của không ít kẻ trong số đó còn chưa “sạch nước cản”, với những thói quen giả danh dân chủ, trục lợi chính trị, kích động, xúi bẩy người khác gây rối và làm mất trật tự, người ta thật khó kiếm đâu ra căn cứ để mà tin rằng cái thứ “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” kia lại có thể làm nên trò trống gì. Thế mà những kẻ “không biết mình là ai” trong cái gọi là “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” ấy đã mạnh miệng tuyên bố tôn chỉ là "vì một Việt Nam tiến bộ xã hội, dân chủ và đa nguyên, văn minh và giàu mạnh", nhằm mục đích "phản ánh trung thực và sâu sắc những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đất nước; phản biện đối với những chính sách bất hợp lý của nhà nước liên quan đến quản lý xã hội và tự do báo chí và tổ chức trao đổi, đối thoại với các cấp chính quyền về tự do báo chí và quản lý xã hội khi có điều kiện, đồng thuận với những chính sách, giải pháp hợp lòng dân và có lợi cho đất nước".
Người Việt có câu “Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe”. Những kẻ chủ trương nhào nặn ra cái “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” quả tình “điếc chẳng sợ súng”, phán “như thánh như tướng” như thế thật khó lọt lỗ tai người nghe. Danh đã bất chính, nói chẳng lọt tai, không hiểu rồi đây những “nhà báo” này sẽ “làm báo” ra sao mà dám đòi “phản ánh trung thực và sâu sắc”, “phản biện những bất hợp lý” hay “đối thoại tìm giải pháp”? Thật ấu trĩ và nực cười lắm thay!



Về cái gọi là “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”:
DANH KHÔNG CHÍNH, NÓI KHÔNG THUẬN, LÀM BẤT MINH

Như dư luận đã biết, hôm 4/7 tại TP HCM, một nhóm cá nhân đã tuyên bố thành lập và ra mắt cái gọi là “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” – xem như một “tổ chức dân sự mới” – nhằm thực hiện cái mà nhóm cá nhân này cho là “quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí”. Có rất nhiều câu hỏi đặt ra về cái tổ chức này mà cho đến tận hôm nay, chính nhóm cá nhân đứng ra tuyên bố thành lập cũng chưa giải đáp cho được “xuôi chèo mát mái”…

Bài 1 – DANH KHÔNG CHÍNH ĐÁNG
            Dù cho là cá nhân, tổ chức, cơ quan nào đi nữa, thì tên gọi là vấn đề quan trọng đầu  tiên cần xét đến. Tên gọi ngay thẳng, chính đáng thì tự bản thân tên gọi ấy đã phần nào cho dư luận thấy đó là một cá nhân, tổ chức, cơ quan ngay chính, không tà vạy, xiên xẹo; ngược lại, không ai đặt tên con theo những nghĩa đen tối, bất minh, có ý xỏ xiên hay chẳng cơ quan, tổ chức nào lại đi chọn một danh xưng khiến chẳng ai hiểu được tổ chức, cơ quan ấy hành xử việc gì, chịu trách nhiệm đến đâu, chọn chỗ đứng nào trong xã hội. Thế mà, điều tưởng chừng như chẳng ai làm ấy lại được “hành” bởi những kẻ “tiên phong sáng lập” nên cái gọi là “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”. Tại sao lại có thể nói như thế?
Hiến pháp nước ta quy định rõ quyền tự do lập hội, khẳng định quyền ấy là một quyền cơ bản của con người trong một xã hội văn minh. Người Việt Nam nào cũng có thể tìm đọc Hiến pháp 2013 để có thể thấy nguyên văn quy định của đạo luật cơ bản này về quyền lập hội được ghi trong Điều 25, như sau: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Rõ ràng, điều này có hai ý: Thứ nhất, Nhà nước tỏ rõ ý tôn trọng, đảm bảo các quyền cơ bản của con người trong đó có quyền tự do hội họp, lập hội; thứ hai, các quuyền ấy, trong đó có quyền lập hội, phải được pháp luật quy định.
Thiết nghĩ, một xã hội văn minh, lấy pháp quyền làm trọng, làm mục đích tối thượng thì mọi hành xử, mọi quyền hành phải noi theo pháp luật mà làm, ngước trông lên pháp quyền làm đích chuẩn mà hướng tới. Thế cho nên, quyền lập hội được Hiến pháp bảo hộ, bất kể ai muốn đứng ra lập Hội, Nhà nước không có cấm đoán nhưng đòi hỏi phải tuân thủ những quy định nhất định của pháp luật.
Chiếu theo những điều ấy, xét về việc ra đời của “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, người ta có rất nhiều điều buộc lòng phải hồ nghi.
Là một Hội, vậy thử hỏi “Hội” này được ai, cơ quan nào cho phép thành lập? Những thành viên “sáng lập” nên cái “Hội” này – trong bài này chưa vội kể tên – đều là những công dân đang sống tại Việt Nam, chịu mọi sự điều chỉnh của luật pháp Việt Nam, được hưởng những thành quả của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Thế thì, họ là người hay là sinh vật nào khác mà trơ mặt “ăn cây táo, rào cây sung”, tự do lập Hội mà bất chấp pháp luật, bất chấp Hiến pháp?
Nếu không  tuân thủ đầy đủ những quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội mà Nhà nước đã quy định, thì rõ ràng không đủ “mặt mũi” để người ta xem đó là một tổ chức hội đầy đủ danh nghĩa. Và nếu không đặt mình đứng trong quy định của luật pháp, thì cái “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” có “tư cách” chẳng hơn gì một hội đồng hương, hội đồng học, hội đồng niên v.v…nghĩa là những thứ hội lập ra cho vui vẻ, tự tụ tập nhau vì có chung một “cái gốc” thường thường nào đó như cùng tuổi, chung trường, cùng quê. Và như thế, thật không có gì rõ ràng hơn để khẳng định chắc chăn rằng, “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” thực chỉ là một thứ bè nhóm kiểu “vui đâu chầu đấy”, tụ tập làm reo theo kiểu “ếch ngồi đáy giếng” mà thôi.
            Hẳn sẽ có người đọc đến đây mà tự phản biện rằng liệu nói như thế có “quá đáng” không, thì người viết lại xin thưa thêm đôi ý nữa cho thực rõ vậy. Như đã nói, vào cái ngày 4/7 vừa qua ấy, các “nhà sáng lập” tụ tập nhau, tự ra tuyên bố thành lập hội rồi “tung lên mạng”. Nếu các vị ấy rắp tâm lập một cái Hội theo đúng nghĩa mà các vị ấy tự nhận “là tổ chức xã hội dân sự” ở Việt Nam, thì hà cớ gì lại né tránh pháp luật Việt Nam vốn đã có quy định rất đầy đủ về quyền lập hội? Con mình đẻ ra, mình có quyền đặt tên nhưng tên gọi của con mình dứt khoát phải được đăng khai sinh thì mới chính thức được ghi nhận là “công dân”, còn dám đẻ, dám đặt tên mà không dám đăng ký khai sinh, không dám vỗ ngực xưng là cha mẹ chính thức của đứa con ấy thì rõ ràng chỉ có thể chính anh ta đã có mối tình bất chính, có con ngoài giá thú mà thôi. Chiếu vào tình cảnh của “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”, xin hỏi công luận một câu, đó chẳng phải là một thứ “con hoang” ư? Những kẻ “đẻ” ra cái “Hội” ấy đã không dám đăng ký công khai cho “con mình”, cũng không dám đàng hoàng vỗ ngực “xưng cha kêu mẹ” thì “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” tìm đâu ra sự chính danh? Nó làm sao có thể được công nhận “đủ tư cách công dân” trước luật pháp?
            Là một thứ “con hoang”, một sản phẩm của những kẻ hoang tưởng nhưng nghênh ngạo, đạp lên cả pháp luật của chính quốc gia mà họ đang là công dân, rõ ràng “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” đã và sẽ không đủ tư cách để được xem như một tổ chức đàng hoàng, có tư cách. Danh xưng không chính đáng thì chẳng được ai nhìn nhận chứ đừng nói đến xưng tụng. Chỉ là thứ “con hoang” thì càng không thể có chỗ đứng, có tư cách mà nói “chuyện trong nhà” dù ở bất cứ đâu.
            Tên gọi nghe thì “kêu như chuông” song thực tế đáng buồn là chỉ mới phân tích qua tên gọi của “đứa con hoang” này, đã chẳng cách nào tìm thấy cho được dù một chút ít sự đàng hoàng, tư cách của cái gọi là “Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam”. Danh xưng đã chẳng chính đáng, khốn nạn hơn, những lời nói, việc làm của cái thứ “con hoang” này lại càng chẳng khiến ai tôn trọng, nể nang…/.

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Vụ bầu Kiên: "Có đến 5 bị cáo được tuyên án quá nhẹ là rất bất thường"



Bị cáo Nguyễn Đức Kiên đã nhận 30 năm tù giam, nhưng bên cạnh đó, nhiều bị cáo nhận án nhẹ. Có vấn đề gì phía sau mức án đã tuyên?
Tội phạm, không phải người hùng
Đến giờ, khi phiên sơ thẩm vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm đã kết thúc, 8 bị cáo đều đã nhận được bản án của mình. Tuy nhiên, điều còn đọng lại sau phiên xét xử, không chỉ là bản án được tuyên ở mức nào?
Trở lại với ngày 20/5, khi phiên tòa được mở trở lại sau một lần phải tạm hoãn, Nguyễn Đức Kiên (còn gọi là bầu Kiên) cùng 7 bị cáo khác ra trước vành móng ngựa. Theo dõi từ truyền thông, điều gây ngạc nhiên đầu tiên là thái độ của bị cáo Kiên luôn bình thản, thi thoảng mỉm cười khi nghe tòa luận tội.
Mặc dù, theo kết quả điều tra và quá trình xét xử tại tòa, bức tranh rõ nhất có thể nhận thấy là bầu Kiên cùng đồng phạm đã phạm phải nhiều tội như: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Trốn thuế, Kinh doanh trái phép, Cố ý làm trái...
Tại phiên tòa, các tranh luận giữa luật sư và cơ quan hành pháp rất gay gắt, tất cả đều trập trung làm rõ xem bầu Kiên và các đồng phạm có phạm tội hay không? Tội gì? Phạm tội ở mức nào? Và, kết thúc, tất cả đều thấy, việc các bị cáo phạm tội là rõ, thậm chí còn có dấu hiệu đầu cơ, thao túng thị trường để trục lợi cá nhân, gây thiệt hại đặc biệt lớn cho nền kinh tế, cho xã hội nhưng chưa được tính đến.
Xét ra, đây là một vụ án kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, và với những tội trạng mắc phải, mức án 30 năm tù giam dành cho bầu Kiên, không phải là án nặng, mà đã có sự khoan hồng của pháp luật.
Tới đây, xin nói về sự bất thường trong một phiên tòa.
Không như lẽ thường, bầu Kiên luôn ra tòa trong tư thế thoải mái và chẳng mấy chốc, hình ảnh của ông này vụt sáng như một “người hùng”. Nhiều bài viết đã mô tả bầu Kiên trong tư thế đĩnh đạc, với các lập luận sắc bén, hùng biện sôi nổi và có ít nhiều thuyết phục; hình ảnh bầu Kiên càng “đáng nể” hơn khi có vợ đẹp, qua các hình ảnh được phát đi, nhiều khi trực tiếp từ phiên tòa cho thấy đó là vẻ đẹp ngiêng nước nghiêng thành, nổi bật trước đám đông?
Tất cả những chuyện ấy, sẽ là bình thường nếu xảy ra ngoài cuộc sống, với một người trong sạch, không vi phạm pháp luật chứ không phải ở phiên tòa.
Nhiều lúc, dư luận đã đặt câu hỏi, tại sao một số thông tin phát đi từ tòa lại có ý bênh vực cho bầu Kiên; chủ động xây dựng hình ảnh bầu Kiên như một “tấm gương” để học tập?
Theo nguyên tắc suy luận vô tội, việc chứng minh bị cáo không phạm tội là điều mà cả cơ quan xét xử và các luật sư đều phải làm. Nhưng, trước hết họ phải tuân thủ pháp luật; việc ấy phải được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và các quy phạm pháp luật, không thể được căn cứ vào vẻ bên ngoài, hay dựa vào cảm tính.
Án nhẹ bất ngờ
Có thể ở một góc độ nào đó, một thời điểm nào đó, bầu Kiên là người làm kinh tế giỏi, nhưng điều đó sẽ là vô giá trị khi anh ta lách luật, vi phạm pháp luật để trục lợi, gây phương hại đến lợi ích của người khác, của xã hội thì đó đích thị là có tội.
Hành vi ấy, không thể được thông cảm, chứ nói gì đến được vinh danh.
Còn ở góc độ xã hội pháp quyền, khi bị cáo được vinh danh, thì công lý đã bị khinh thường.
Và đây, có thể chính là hậu quả của những việc làm trên, trong số 8 bị cáo của vụ án, có đến 5 bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn khá nhiều so với đề nghị của Viện kiểm sát. Đó là, bị cáo Nguyễn Thị Hải Yến (SN 1969): 5 năm tù giam, giảm so với đề nghị 7 đến 8 năm tù; Trần Ngọc Thanh (SN 1952):  5 năm 6 tháng tù giam, giảm so với đề nghị 9 đến 10 năm tù; Lý Xuân Hải (SN 1965): 8 năm tù và cấm đảm nhiệm các chức vụ ngân hàng trong 5 năm, giảm so với đề nghị từ 12 đến 14 năm tù; Trịnh Kim Quang (SN 1954): 4 năm tù giam, giảm so với mức đề nghị là 6 đến 7 năm tù; Lê Vũ Kỳ (SN 1956): 5 năm tù giam, giảm so với mức đề nghị từ 7 đến 8 năm tù.
Dựa theo quy định của pháp luật, phía tòa án đã căn cứ vào các chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để cuối cùng đi đến kết luận. Kết luận ở đây là mức án dành cho các bị cáo và quan điểm là phải đúng người, đúng tội, đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.
Tuy nhiên, ở vụ án đặc biệt nghiêm trọng này, có đến 5 bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn so với đề nghị trước khi kết thúc phiên tòa đã gây nhiều hoài nghi.
Nhìn vào các chứng cứ để luận tội, một luật sư thuộc đoàn luật sư Hà Nội (đề nghị giấu tên) cho rằng, có tời 5 bị cáo được hưởng mức án nhẹ như trên là rất bất thường, và dư luận nghi ngờ là có cơ sở. Thậm chí, có bị cáo mức án được đề nghị còn nhẹ hơn cả khung hình phạt đã quy định.
Nguyên tắc suy luận vô tội là cần thiết, nhưng trước tòa, công lý phải được tôn trọng, và không vì nguyên tắc ấy mà làm giảm đi sự nghiêm minh của pháp luật. Cho nên, trong trường hợp này, cần phải có sự vào cuộc của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cấp quản lý cao hơn để làm rõ, vì sao có đến 5 bị cáo được hưởng mức án nhẹ? Có hay không sức ép ngoài pháp luật tác động đến kết quả này?